Mục lục nỗi đau dan tôi

Tuesday, July 2, 2013

Mở Hồ Sơ Cũ: TỪ CÁI CHẾT CỦA SVSQ SỬ XUÂN VĨNH LỘC ÐẾN MẶT TRẬN ÐIỆP BÁO CSVN....



- Thủ phạm là SVSQ Phan Xuân Lâm, hiện nay là Đại Tá Công An tại Sài Gòn
- Lâm Viên (Phạm Đức Tiến, tức họa sĩ Gúc)
(Trích KBC Hải Ngoại, số tháng 11 năm 2002)
Ðại Học ChiếnTranh Chính Trị tọa lạc trên ngọn đồi 4648, (4648 còn là số khu bưu chính cuủa trường) đối diện với trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Tuy là một quân trường mới thành lập vào năm 1966 (tính đến ngày miền Nam thất thủ, trường đang thu nhận khóa 6/SVSQ), nhưng chương trình huấn luyện vô cùng cam go, đầy thử thách, xứng danh một quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch. Ðể được thu nhận, ứng viên phải có Tú Tài toàn phần, hội đủ điều kiện và tiêu chuẩn về thể chất, còn độc thân và phải qua một kỳ thi tuyển.


Chương trình thụ huấn 2 năm tại trường gồm 3 phần: Quân Sự, Văn Hóa, và Chiến Tranh Chính Trị. Ðầu tiên, các Tân Khóa Sinh sẽ được huấn luyện căn bản cá nhân tác chiến tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Sau đó đươc chuyển lên Ðà Lạt.

Trong 2 tháng đầu, các Tân Khóa Sinh phải trải qua giai đoạn “Huấn Nhục” thử thách kinh hoàng về thể chất và tinh thần, nhằm lột xác một thanh niên dân sự lè phè thành một người lính can trường, kiêu hãnh với những giá trị mới, quan niệm mới. Sau khi vượt qua được cái “Rite de Passage” này, các Tân Khóa Sinh mới được chấp nhận là SVSQ/CTCT.

Trong năm đầu, các SVSQ được huấn luyện quân sự cấp Trung Ðội tại Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, năm thứ nhì cấp Ðại Ðội. Chương trình huấn luyện quân sự này hoàn toàn giống như chương trình dành cho SVSQ cuủa Trường Võ Bị. Trong mùa Văn Hóa, SVSQ được giảng dạy tại Trường Mẹ. Chương trình học gồm các môn như Chính Trị Học, Nhân Chuủng Học, Dân Luật, Bang Giao Quốc Tế v.v... do các giáo sư cuủa các Viện Ðại Học Saigòn lên giảng dạy.
Hiện nay tại hải ngoại, các Giáo Sư Nguyễn Mạnh Hùng, Giáo Sư Tạ Văn Tài, cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, Thượng Tọa Thích Giác Ðức (Lecturer) đã một thời là các bậc thầy khả kính của Ðại Học CTCT. Vào mùa Văn Hóa cuối cùng, mỗi SVSQ phải nộp một bài tiểu luận, đề tài do SVSQ tự chọn.
Riêng phần Chiến Tranh Chính Trị do Cán Bộ CTCT cơ hữu của trường phụ trách. Chương trình học gồm các môn như “Kỹ Thuật Nghe và Nói”, “Kỹ Thuật Tuyên Truyền Ðen, Xám và Trắng”, “Thuật Hùng Biện” và nhiều môn học khác nhằm hỗ trợ cho 6 bước công tác CTCT: Quần Chúng Chiến, Tư Tưởng Chiến, Mưu Lược Chiến, Tâm Lý Chiến, Tổ Chức Chiến, và Tình Báo Chiến. Gọi là Lục Ðại Chiến, được tượng trưng bằng ngôi sao 6 góc trên huy hiệu của Quân Trường.
Trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, nhiều người tưởng rằng CTCT là chỉ là đàn ca hát xướng, giải trí cho anh em binh sĩ. Thật ra văn nghệ chỉ là một trong các phương tiện dùng để hỗ trợ công tác Tâm Lý Chiến mà thôi. Thêm vào đó, các SVSQ còn được dạy Anh Ngữ với phòng thính thị, cũng như được huấn luyện Nhu Ðạo hoặc Thái Cực Ðạo.
Trong suốt 2 năm thụ huấn tại quân trường, mọi sinh hoạt trong Liên Ðoàn SVSQ đều do Các SVSQ Chức Sắc thuộc Hệ Thống Tự Chỉ Huy từ cấp Trung Ðội cho đến Cấp Liên Ðoàn (gồm 2 Tiểu Ðoàn SVSQ) đảm trách. Các SVSQ Chức Sắc được bạn đồng đội bầu lên với nhiệm kỳ sáu tháng. Hệ Thống Tự Chỉ Huy là một phương cách thực tế, giúp cho SVSQ tập lãnh đạo và chỉ huy, và hầu như không có SVSQ nào thoát khỏi vai trò này.
Ðời sống thường nhật của một SVSQ/CTCT thật vô cùng bận rộn với bài vở trong giảng đường, tập luyện trên các bãi chiến thuật, chưa kể hàng đêm canh gác bảo vệ vòng đai quân trường và phải khép mình trong một khuôn khổ với quân phong, quân kỷ thật khắt khe. Vì thế không phải SVSQ nào cũng sẽ đương nhiên ra trường với cấp bậc Thiếu Úy (với ám số chuyên nghiệp 630.0, khác với ám số tác chiến thuần túy 240.0). Khóa 3 Nguyễn Trãi sau năm đầu đã có 1 SVSQ ra trường sớm với cấp bậc Trung Sĩ, sang năm thứ 2, bốn SVSQ khác ra trường với cấp bậc Chuẩn Úy. Tất cả đều vì điểm xấu kỷ luật. Xét như thế, khi tốt nghiệp, các SVSQ/CTCT sẽ trở thành những Sĩ Quan văn võ song toàn đúng nghĩa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Hơn thế nữa, ÐH/CTCT còn gián tiếp trao truyền các SVSQ một tâm tình dân tộc, với tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường như một trang Tráng Sĩ thời xưa đi làm lịch sử. Mỗi khi tan hàng, SVSQ chỉ huy phải hô khẩu hiệu và đoàn quân sẽ đồng thanh trả lời:

- Một đoàn thể: Quân Ðội!
- Một lý tưởng: Quốc Gia!
- Một ý chí: Chống Cộng!
- Tan hàng: Cố gắng!

Và trên quân kỳ của Trường, phất phới tung bay hàng chữ tâm niệm TRÍ, NHÂN, DŨNG,THÀNH (motto của ÐH/CTCT).
Vào những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, ÐH/CTCT được di chuyển qua một địa điểm mới là Trường Chỉ Huy Tham Mưu (Ðà Lạt). Nơi đây doanh trại và phòng ốc khang trang hơn, thích hợp cho một quân trường Sĩ Quan hiện dịch. Tuy nhiên, hầu hết các cựu SVSQ/CTCT khi nhắc đến quân trường Mẹ, lòng đều hướng về quân trường cũ, tuy nghèo nàn, nhưng thơ mộng và đầy ắp kỷ niệm. Lúc bấy giờ ÐH/CTCT cũng đang chuẩn bị cho tiến trình huấn luyện SVSQ trong chương trình bốn năm, và sẽ bắt đầu tiếp nhận nữ SVSQ. Theo đó, văn bằng tốt nghiệp cũng sẽ có giá trị tương đương với bằng Cử Nhân Chính Trị của một Ðại Học dân sự.
I.- Cái Chết Bí Ẩn Của SVSQ Sử Xuân Vĩnh Lộc
Sau khi đã có được một ý niệm rõ rệt về ÐH/CTCT, chúng ta sẽ thấy ngay cái “tin đồn” tự tử của SVSQ Khóa 3 Sử Xuân Vĩnh Lộc trong tháng ngày ở quân trường hoàn toàn không hợp lý, vì anh đang đi những bước cuối cùng nhất sau 2 năm trường khổ nhọc cam go. Một thanh niên có tâm hồn ủy mị, yếu đuối và tuyệt vọng chắc chắn sẽ bị loại ngay trong 2 tháng “Huấn Nhục” đầu tiên. Lời đồn đãi như thế, chỉ phản ảnh một tâm địa tàn nhẫn độc ác đối với người quá cố. Nếu không ngoài mục đích tạo uẩn khúc, muốn đánh lạc hướng điều tra của Phòng An Ninh. Hơn thế nữa, những dữ kiện đưa ra trong lúc đó cho thấy đó chỉ là một tin đồn nhảm.
Nếu xét về phương diện ngoại hình, quả thật Sinh Viên Sĩ Quan Sử Xuân Vĩnh Lộc (SVSQ/SXVL) là một trong những người xấu trai trong Liên Ðoàn SVSQ. Anh có cặp mắt lồi và đôi môi dầy vêu vao, cộng thêm hai cái răng cửa như răng thỏ. Ðã thế lại cận thị nên lúc nào anh cũng đeo cặp kính gọng đen to bản trông kém mỹ thuật. Tuy cao ráo hơn nhiều tên lùn “mã tử” (đạn mã tử là một loại đạn không có đầu đạn (bullet), dùng để tập trận giả nên rất ngắn) trong đơn vị, nhưng anh đi dáng hơi khòm. Hai tay dài lòng thòng quá khổ, nên nhìn xa coi bộ dạng đi là phe ta cũng biết ngay là Sử Xuân Vĩnh Lộc.
Hôm đó là ngày 29 tháng 3 năm 1973, còn chừng hơn 20 ngày nữa là khóa 3 Nguyễn Trãi của Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị (ÐH/CTCT) sẽ làm lễ mãn khóa tốt nghiệp. SVSQ Sử Xuân Vĩnh Lộc sẽ trở thành một Thiếu Úy hiện dịch của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Lúc ấy vào khoảng hơn 10 giờ tối, giờ này là giờ tự do của các SVSQ. Những SVSQ có nhiệm vụ canh gác ngoài vòng đai quân trường đã ra hết các vọng gác chỉ định. Số SVSQ còn lại hoặc ở thư viện hay câu lạc bộ SVSQ; một số đi ngủ sớm hay ở trong phòng học bài, viết thư v.v..., vì thế doanh trại của Liên Ðoàn SVSQ rất vắng.
Ðột nhiên một tiếng nổ dữ dội vang lên từ phía doanh trại Liên Ðoàn. Khi các SVSQ chạy đến nơi phát ra tiếng nổ, họ chứng kiến một cảnh tượng kinh hoàng: SVSQ Sử Xuân Vĩnh Lộc nằm chết trên vũng máu, nửa phần dưới thân thể anh banh nát vì sức công phá của lựu đạn, ba SVSQ khác bị thương nằm quằn quại rên la. Ngay sau đó, trong Liên Ðoàn SVSQ có một tin đồn lan ra đại khái là “Thằng Sử Xuân Vĩnh Lộc tự tử vì nó xấu trai quá!” Tuy nhiên, Phòng An Ninh cuủa quân trường sau khi điều tra đi đến kết luận là đương sự chết vì bất cẩn làm nổ lựu đạn.
Mấy ngày sau, trung đội 8, đơn vị tuần sự của đại đội D, trong quân phục đại lể tiễn đưa linh cữu của SVSQ/SXVL từ chùa Linh Sơn lên quân xa, chở anh về nguyên quán. Có 2 SVSQ tháp tùng theo quân xa đưa anh về đến quê nhà. Liên Ðoàn SVSQ thở phào nhẹ nhõm, vì điều mọi người lo lắng trông đợi “cái huông” đã đến, nhưng kẻ chết không phải là mình. Từ khóa I cho đến khóa 4 Nguyễn Trãi , mỗi khóa đều có vài SVSQ chết trước khi ra trường. Lộc là người đầu tiên của khóa 3 chết, và ngày ra trường đã gần kề, sau đó ai nấy đều bận rộn tập lễ mãn khóa, chuẩn bị hành trang và tâm tư rời quân trường mẹ; không còn bận tâm về cái chết của anh.
Tuy nhiên, một số SVSQ biết rõ anh vẫn còn thắc mắc, họ tự hỏi: Bộ thằng Lộc nó khùng sao mà tự tử, bộ hết cách rồi sao mà chơi lựu đạn để anh em bị vạ lây! Còn bất cẩn? Lựu đạn cá nhân thằng nào cũng ràng thêm giây thung. Súng có thể vì bất cẩn làm cướp cò nổ chết người, nhưng bất cẩn làm nổ lựu đạn là điều rất hiếm, ngoại trừ trường hợp lựu đạn đã được rút chốt!
- SVSQ/ SXVL chết trong lúc đang chuẩn bị hành trang cá nhân để lên trực Phòng Hành Quân.
- Nếu tự tử, anh sẽ ôm lựu đạn vào người và sẽ bị nổ banh xác, ở đây chỉ phần dưới người anh bị nát. Nửa phần trên không bị hề hấn gì. Như thể anh chết vì đứng gần ngay trái lựu đạn.
- Người chết không hề để lại một lá thư tuyệt mạng nào.
- Mỗi SVSQ đều có 2 khẩu súng cá nhân, M16 và Garant M1. Tự t bằng súng vẫn gọn và “clean” hơn bằng lựu đạn. Chưa kể lựu đạn sau khi rút chốt sẽ không nổ liền mà còn phải... đợi!
Nếu phải chọn một trong hai cách quý bạn sẽ chọn cách nào?
Ðến đây, chúng ta sẽ phân tách nguyên do thứ hai: Ðương sự chết vì bất cẩn làm nổ lựu đạn. Sau cuộc tấn công của đặc công Cộng Sản vào Trường ÐH/CTCT ngày 31 tháng 3 nám 1970 làm thiệt mạng 5 SVSQ (khóa 2 Nguyễn Trãi) và 40 Sĩ Quan Tuyên Úy, quân nhân cơ hữu (Các vị Tuyên Úy này được gửi học bổ túc CTCT tại Trường), các SVSQ được cấp phát thêm mỗi người 2 qủa lựu đạn loại phòng thủ M26, và 2 quả lựu đạn này được để ở một vị trí ấn định đồng nhất trong tủ cá nhân, để Sĩ Quan Cán Bộ có thể nhìn thấy khi trình khám quân trang, quân dụng, và vũ khí mỗi cuối tuần.
Cần nói thêm, M26 là loại lựu đạn vỏ trơn (lemon grenade), đít bằng phẳng có thể dựng đứng được, lớn bằng cục xà phòng hình bầu dục “Caress” trong các siêu thị Mỹ hiện nay. Chốt an toàn của lựu đạn là một kẹp sắt nhỏ (lớn bằng 2 que tăm nhập lại, giống như cái kẹp tóc sắt nhỏ rẻ tiền của VN thời trước) bẻ gập sát lại. Chỗ góc bẻ cong có móc một khoen sắt tròn đường kính lớn hơn đồng cắc Quarter của Mỹ. Kẹp sắt này được xỏ qua một lỗ nhỏ phía trên đầu lựu đạn để giữ búa khai hỏa và thìa lựu đạn khỏi bật lên kích hỏa. Hai đầu kẹp sắt sau đó được bẻ ngược lại để chốt an toàn khỏi tuột ra.
Trước khi ném, người xử dụng dùng ngón tay móc vào khoen sắt và phải kéo rất mạnh mới hy vọng lôi được kẹp sắt ra. Lựu đạn bấy giờ vẫn chưa nổ được vì những ngón tay phải nắm lựu đạn vẫn còn giữ chặt thìa an toàn. Khi ném đi, thìa an toàn mới bật tung ra, kích hỏa, lựu đạn sẽ nổ chừng 5 hay 6 giây sau. Muốn kéo chốt lựu đạn được dễ dàng, hai đầu kẹp sắt ít nhất phải được bẻ xuôi lại. Nói như thế có nghĩa là chốt an toàn này không dễ gì sút được.Tuy nhiên vì cẩn thận và để an toàn hơn, một số đông SVSQ lấy giây thung ràng đuôi thìa an toàn vào thân trái lựu đạn. Thêm vào đó còn có vài điều đáng ghi nhận như sau:
- Như đã đề cập ở phần đầu, SVSQ/SXVL chết trong lúc anh đang chuẩn bị hành trang lên trực Phòng Hành Quân; SVSQ trực Phòng Hành Quân chỉ trang bị nón sắt, súng M16, và giây băng đạn, chứ không hề mang lựu đạn. Ngay cả SVSQ đi gác đêm ngoài vòng đai quân trường cũng không mang theo lựu đạn cá nhân của mình, vì tại mỗi vọng gác đều có một thùng lựu đạn lớn chứa chừng 40 quả.
- Nếu vì đang khi lục lọi hành trang, anh Lộc vô ý làm lựu đạn phát nổ, thì ngăn kéo và tủ đựng quân trang của anh sẽ bị hư hại nặng. Ở đây, sức ép của lựu đạn chỉ làm các cánh cửa tủ bật tung ra.
- Nếu vô ý làm lựu đạn sút chốt, anh Lộc vẫn còn đủ thì giờ phóng ra khỏi góc phòng qua bên kia giường nằm xuống đất, tránh được sức ép và miểng lựu đạn. Anh chết vì bất ngờ không biết lựu đạn sắp nổ. Ba SVSQ khác bị thương vì nằm ngủ trên giường trong góc phòng.
Tuy nhiên, một trong 3 SVSQ bị thương (hiện ở hải ngoại) đã thố lộ như sau: Vị trí lựu đạn nổ ở ngay khoảng giữa hai giường ngủ (giường 2 tầng). Sức nổ phá thủng trần nhà bằng carton ngay phía trên. Kính cửa sổ phòng chỉ bị bể một lỗ. Ðêm hôm đó, SVSQ/SXVL không phải trực Phòng Hành Quân gì hết, vì Ðại Ðội anh là Ðại Ðội hạ phiên ( không phải ra tiền đồn ngủ, canh gác hay ứng trực). Vì thế, lúc lựu đạn nổ, anh và 2 người bạn giường kế cận bị thương vì nằm nguủ ở phòng trong doanh trại. Và Anh còn cho biết thêm, trong thời gian anh nằm ở bệnh viện Tiểu Khu, một sĩ quan Quân Cảnh Tư Pháp có vào gặp anh đại khái nói mớm: Bạn anh đã chết vì tự tử, anh có khiếu nại gì không? Nếu không, anh ký vào biên bản này xác nhận.
Dĩ nhiên, SVSQ bị thương này không có gì để khiếu nại, nhưng anh cho biết cái chết cuủa SVSQ/SXVL cần được điều tra. Nhưng trên thủ tục hành chánh, SVSQ/SXVL được ghi như chết vì bất cẩn để thân nhân anh được lãnh tiền tử tuất và tiền tổ phụ, còn anh được truy tặng cấp bậc Thiếu Úy. Nếu chúng ta loại bỏ cả hai nguyên nhân trên thì chỉ còn một giả thuyết thứ ba, là có kẻ nào đó đã ném lựu đạn vào phòng. Ðây là một nghi vấn mà có lẽ không một phòng An Ninh quân trường nào muốn đặt ra. Vì ách giữa đàng không ai muốn mang vào cổ, chưa kể khả năng và phương tiện truy tầm thủ phạm ngoài tầm tay họ.
Nếu chúng ta chấp nhận giả thuyết này, thì vị trí tốt nhất thủ phạm dùng để ném lựu đạn là vị trí C. Vì từ vị trí này, thủ phạm có thể quan sát được suốt chiều dài đường đi giữa hai doanh trại, hai phía trái và phải của sân tập họp Liên Ðoàn, và dãy nhà đối diện (gồm có văn phòng Sĩ Quan Cán Bộ, giờ này chỉ có 1 SVSQ trực ngồi bên trong; nhà vệ sinh của Liên Ðoàn, không thể nhìn ra ngoài; phòng Văn Khang (phòng giải trí của SVSQ), giờ này đã đóng cửa, nếu có SVSQ nào còn lén đánh bi-da bên trong, họ sẽ đóng cửa, kéo màn kín mít!).
Nói một cách khác, giờ này doanh trại rất vắng, bên ngoài trời tối (giữa hai doanh trại không có đèn). Một khi đã thấy “clear”, không có ai qua lại, thủ phạm chỉ cần bước độ sáu bước là đến sát ngay cửa sổ, hất nhẹ quả lựu đạn vào bên trong. Xong, hắn ta tiếp tục đi vội về cuối doanh trại, hoặc vòng trở lại sân tập họp, trở thành một người tình cờ đi ngang doanh trại vào lúc tai nạn xảy ra.
Ðó là chưa kể bên trong doanh trại đèn sáng lờ mờ, nhìn ra ngoài trời tối, không nhận diện được ai . SVSQ thường để mở hoặc khép hờ cửa sổ vì doanh trai hẹp mà lại đông người. Cửa sổ chỉ được khép chặt khi trời mưa, khi đi học quân sự suốt ngày bên trường Võ Bị, hoặc đang... nấu mì gói bất hợp pháp! Chưa kể bốn cửa chính vào doanh trại luôn luôn phải để ng, để Sĩ Quan Cán Bộ có thể vào phòng thanh tra bất cứ giờ phút nào. Chỉ còn vài tuần ngắn ngủi nữa sẽ ra trường, hung thủ có thể ra tay hành động mà không sợ lộ hình tích. Vào thời điểm ấy có mấy ai dám nghĩ đến giả thuyết thứ ba nêu trên?
II.- Mặt Trận Ðiệp Báo Của CSVN
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chiếm trọn được miền Nam, vì tin rằng mục đích tối hậu đã đạt được, Cộng Sản Việt Nam không ngần ngại để những con trùng gián điệp lợi hại nhất đã cài trong mọi cơ cấu chính quyền Việt Nam Cộng Hòa được xuất đầu lộ diện. Một phần là để tưởng thưởng và tuyên dương công trạng các tên này. Mặt khác, chính những con trùng gián điệp này khi được dịp cởi bỏ những chiếc mặt nạ chúng phải mang ròng rã trong nhiều thập niên, đã hiu hiu tự đắc như khoe khoang, thỏa mãn cho cái tâm lý dồn ép bí mật mà chúng phải chịu đựng trong nhiều năm qua.
Thực chất, bọn này chỉ là những là những tên bội phản,ở thời đại nào, quốc gia nào cũng đều bị phỉ nhổ, vì không có luật lệ nào công nhận chúng như địch quân đối kháng trên chiến trường. Ðó chỉ là những tên phá hoại, khủng bố (terrorist). Nổi tiếng vì đã xâm nhập được các guồng máy cao cấp như Phủ Tổng Thổng có Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, hoặc các cơ quan truyền thông quốc tế như Phạm Xuân Ẩn, trong giới Văn Nghệ có những tên như Vũ Hạnh, “Kiều Nữ” Kim Cương, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường v.v...
Thành phần “cán bộ ba mươi”, trở cờ vào giờ thứ 25, có tên phi công Nguyễn Thành Trung (tên thật là Ðinh Khắc Trung) ai cũng biết. Còn biết bao nhiêu tên bội phản khác nữa ở nhiều đẳng cấp khác nhau mà chúng ta không biết đến, chỉ những kẻ trong cuộc có dịp đối đầu chúng mới biết. ÐH/CTCT cũng không nằm ngoài tai ương này, tình báo Cộng Sản đã gài tay sai của chúng theo học khóa 3 Nguyễn Trãi. Ðó là hai tên Phan Xuân Lâm và Lê Hùng Anh. Những điều ghi nhận sau đây là những sự kiện (facts) mắt thấy, taỉ nghe, được đối chiếu, hay khi có dịp đối chất do các cựu SVSQ/CTCT khóa 3 thu thập.
Ðây không còn là vấn đề nghi ngờ, nghi oan, vu khống hay chụp mũ. Những ai vì tình “đồng đội”, muốn bênh vực, giải hóa cho hai tên gián điệp Cộng Sản này có quyền viết bài trần tình, phản bác, chúng tôi tin rằng bổn báo sẽ hoan hỷ đăng tải.
Phan Xuân Lâm (PXL) sinh ngày 9 tháng 3 năm1949 tại Ninh Thuận, trước năm 1975 cư ngụ taị số 9 đường Phó Ðức Chính Saigon. Là một người Việt gốc Hoa, nên hắn theo học trường Trung Học Bác Ái (một trường Trung Học dùng toàn Hoa ngữ trong chương trình giảng dạy, dành cho con cháu các Hoa kiều Chợ Lớn). Trong thời gian theo học tại trường này, hắn được móc nối, hoạt động cho một tổ tình báo Trung Cộng, dưới quyền điều động của một nữ tổ trưởng cũng là một nữ sinh Trung Học Bác Ái. Y thị sau này kết hôn với PXL, và là người phối ngẫu của hắn cho đến ngày nay.
Trong thời gian này, y thị đã bị cơ quan An Ninh của Việt Nam Cộng Hòa nghi ngờ, điều tra bắt giữ ít nhất hai lần, nhưng sau đó được thả ra. Vì là một tổ tình báo học sinh, nên hoạt động của nhóm này chỉ giới hạn trong công tác thu lượm tin tức, liên lạc, móc nối, kết nạp, vận động cảm tình viên, và trải truyền đơn chống chính phủ.
Năm 1970, PXL ghi tên thi tuyển, gia nhập ÐH/CTCT. Thời gian trong trường, PXL tham gia trong hệ thống Tự Chỉ Huy Liên Ðoàn SVSQ với chức vụ SVSQ Tiếp Vận Liên Ðoàn. Vì biết nói tiếng Quảng Ðông, hắn giúp Liên Ðoàn SVSQ mua chịu hàng hóa, bánh trái của các cửa hàng người Hoa tại thị xã Ðà Lạt. Nhờ thế phòng Văn Khang (một hình thức Câu Lạc Bộ tự quản của LÐ/SVSQ) từ tình trạng nợ nần (bankruptcy) do khóa NT 2 bàn giao, đã có thể hoạt động lại, thanh toán nợ nần các bạn hàng ngoài thị xã và thu nhập lợi tức cho LÐ/SVSQ.
Với khả năng xử dụng Hoa ngữ lưu loát, PXL thường đóng vai trò thông dịch viên, hướng dẫn các phái đoàn quân sự Trung Hoa Quốc Gia, khi các phái đoàn này viếng thăm doanh trại và hệ thống Tự Chỉ Huy LÐ/SVSQ. Vì thế PXL chiếm được cảm tình cuủa hầu hết Sĩ Quan Cán Bộ, và được dành nhiều ưu đãi.
Tuy nhiên đối với các SVSQ khác, PXL được nhìn như một trong những thành phần “nâng bi”. Ðể tránh vấn đề tai tiếng thiên vị, một số Sĩ Quan Cán Bộ sau đó tránh giao thiệp thân mật với hắn, và bớt xử dụng hắn trong nhiều công tác. Ðây là khoảng thời gian cuối năm thứ hai, PXL cay đắng vì bị thất sủng.
Sau ngày ra trường, PXL về tiểu khu Phong Dinh và được cử đi làm Phân Chi Khu Trưởng (Phân Chi Khu là một tổ chức quân sự nhỏ điều hành song song với tổ chức dân sự Uỷ Ban Hành Chánh Xã). Vì Phân Chi Khu thường nằm ở những vị trí thôn xóm hẻo lánh, hoạt động tình báo của PXL trong giai đoạn này bị bế tắc vì mất môi trường thu lượm những tin tức có giá trị. Nên sau đó hắn tìm mọi cách để chạy chọt về lại Tiểu Khu.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, PXL không phải đi “học tập cải tạo” một ngày nào. Ở Saigon hắn làm ký giả cho nhật báo Saigon Giải Phóng (ấn bản Hoa Ngữ). Ðây là thời gian hắn bị thử thách, trắc nghiệm lại. Sau đó làm việc cho tình báo công an với cấp bậc Thiếu Tá.
Sau ngày hiệp định Thương Mại Việt Mỹ được ký kết, ngành tình báo công an Cộng Sản được “dân sự hóa” qua hình thức hoạt động kinh doanh. Ðây cũng là một bức bình phong nhất cử lưỡng tiện, vừa ngụy trang cho những hoạt động tình báo, vừa là một bộ máy hợp kinh tài hợp pháp, tạo nguồn tài trợ vô tận qua những hợp đồng buôn bán hoặc tham nhũng.
Hiện nay PXL mang quân hàm Ðại Tá tình báo công an. Về mặt nổi, hắn là giám đốc một công ty xuất nhập khẩu giày dép với hai ngàn nhân viên. Ði đâu cũng có tài xế đưa đón và ba cận vệ thân tín túc trực (chiêu dụ làm việc cho hắn từ các bạn đồng khóa cũ còn ở lại VN). Với điện thoại cầm tay di động tiện lợi, ngày nay hắn có thể huy động thuộc cấp, và liên lạc phối hợp với tên Lê Hùng Anh cho mọi công tác tình báo một cách hiệu quả và nhịp nhàng.
Bây giờ chúng ta mở đến hồ sơ tên Lê Hùng Anh (LHA).

LHA Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1951 tại xã Bình Liên, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, trước năm 1975, hắn cư ngụ tại 29A Tân Hòa Ðông Chợ Lớn. Thân phụ hắn là môt cán bộ tập kết ra Bắc. Nhờ đã được cha hắn gửi gấm Bác và Ðảng nuôi dưỡng ăn học đến nơi đến chốn, nên đến năm 19 tuổi, hắn thi đậu Tú Tài toàn phần, mặc dù trong giai đoạn này, hắn như kẻ mồ côi, vô gia đình, không họ hàng thân thích.

Trong thời gian theo học khóa Nguyễn Trãi 3, LHA tham gia trong hệ thống Tự Chỉ Huy với chức vụ Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội A, Tiểu Ðoàn 1 SVSQ. Tuy LHA có bộ vó chỉ huy oai phong “ngon lành”, hô hoán dõng dạc, ăn to nói lớn, nhưng bản chất hắn chỉ là đứa hữu dõng vô mưu, lại thích khoa trương, nên không đạt được thành tích gì xuất sắc trong suốt 2 năm tại quân trường. Sau khi ra trường, LHA về Tiểu Khu Gò Công làm phòng Chính Huấn.
Sau khi miền Nam thất thủ, LHA không phải đi “học tập” một ngày nào. Ngược lại, trong giai đoạn này, hắn đi đến từng nhà cựu SVSQ /CTCT đồng khóa ở Saigon, vờ hỏi thăm nhưng thực ra để kiểm soát xem có ai trốn “học tập cải tạo” hay không! Sau đó hắn làm cán bộ “cung tiêu” (chuyên viên cung cấp vật liệu và tiêu thụ hàng sản xuất) cho một công ty xây cất. Với tư cách một cán bộ nhà nước, biết đường đi nước bước lách lòn, hắn thành lập một tổ hợp sản xuất ván sàn xuất khẩu. Trong suốt giai đoạn này, với những ai tỏ ý khuất phục, hắn làm bộ ân cần giúp đỡ. Nhưng với những người tỏ ý coi thường, lảng tránh, hắn buông lời thách đố đe dọa.
Hiện nay hắn làm chủ nhân ông một nhà hàng gần cầu Saigon (cầu xa lộ, Tân Cảng cũ), trên đường Ung Văn Khiêm, Phường 25, Quận Bình Thạnh. Nhà hàng này có nhạc Karaoke và theo tiêu chuẩn tình báo công an, có cả “em út”, nhưng hoạt động rất kín đáo. Nơi đây là một địa điểm tụ họp, ăn nhậu, bù khú, rất thuận tiện cho việc móc nối, thu thập tin tức từ các “Việt Kiều” du lịch về thăm quê nhà. Các “Việt Kiều quen biết cũ” có thể quàng tay bá cổ, chụp hình lưu niệm với cán bộ tình báo Lê Hùng Anh một cách... thoải mái, thân tình! Ðặc biệt khi hưởng thụ với các “em út” cơ hữu, sẽ được “naked camera” bí mật chụp hình làm “kỹ nghệ”. Tất cả những hình ảnh trên sẽ được xếp vào hồ sơ “confidential” lưu giữ, chỉ mở ra xưủ dụng khi cần “blackmail” trong tương lai.
  III.- Mở Lại Hồ Sơ Cũ

Trở lại cái chết của SVSQ/SXVL, với hình tích thật sự của hai tên phản trắc kể trên, đây chính là những mắc xích thất lạc gần 30 năm có thể giải thích cho nghi vấn thứ ba mà chúng ta đã phân tích ở phần đầu. Và lời kết luận hợp lý, giờ đây dành cho chính bạn! Có lẽ sẽ không ai bới lại đống tro tàn, nếu hành động phản trắc của tên Phan Xuân Lâm và Lê Hùng Anh chỉ dừng lại sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, bàn tay nhuốm máu của chúng bắt đầu thò ra hải ngoại.
Nhân đây, cũng nên nhấn mạnh và xác định lại: Ðối với những ai từng chọn võ nghiệp, họ sẽ hiểu rằng với hành động phản bội như trên, dù cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không còn tồn tại, hai tên phản tặc kia đương nhiên sẽ bị tước hết cấp bậc, tước hiệu, truyền thống, và huy hiệu mà QL/VNCH và ÐH/CTCT đã ban cho chúng. Và dĩ nhiên danh từ “đồng đội” không còn áp dụng đối với hai tên này, vì từ khởi thủy, chúng đã không bao giờ đứng cùng chiến tuyến với chúng ta.
Nhận thấy khối người Việt hải ngoại là một nguồn tài chánh ngoại tệ có giá trị vô tận, và cũng là một môi trường tình báo lợi hại để chúng có thể cấy người hoạt động lâu dài, gần đây bọn Bắc Bộ Phủ Hà Nội đã chính thức thành lập Bộ Kiều Vận với những kế hoạch và chiến thuật lớp lang, nhằm lũng đoạn và xâm nhập cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, Với chỉ thị mới, tên Phan Xuân Lâm cũng đã bắt đầu rục rịch cho công tác thiết lập một một đầu cầu tình báo của hắn tại hải ngoại.

Trước hết, đối với những anh em cũ còn kẹt ở quê nhà, PXL liên lạc và kết hợp thành một mạng lưới thân hữu, thông tin chặt chẽ. Dùng “tình xưa nghĩa cũ”, tỏ lòng trắc ẩn, mua chuộc những người thất thế và đói rách làm việc, phục dịch cho hắn như kiểu sai vặt, quản gia, tài xế, hay vệ sĩ (body guard).

Ðối với những người ở hải ngoại, hắn tìm cách móc nối liên lạc ban phát đặc ân. Nếu về thăm Việt Nam sẽ được hắn niềm nở đón tiếp, quàng vai ba cổ, dẫn đi ăn nhậu thân thương như thuở nào. Khách không được phép trả tiền cho bất cứ chi phí nào, và sẽ được bảo đảm an toàn trong suốt thời gian lưu tại VN. Nếu khách trở về vĩnh viễn để được nằm trong lòng đất mẹ, hắn sẽ xăn tay áo, kề vai vào khiêng quan tài từ tận phi trường.

Nếu tang chủ lỡ đóng tiền hối lộ cho hải quan, hắn sẽ ra lệnh bọn này phải trả tiền lại (quyền hạn rất lớn!), và cho công an hộ tống quan tài người quá cố về đến quê nhà. Trên lộ trình, mỗi khi đi qua những nơi có bạn bè cũ, sẽ có người đại diện ra đón tiếp, đặt vòng hoa tưởng niệm. Khi đến nơi, quan tài sẽ được rước đi một vòng phố cũ, để người quá cố nhìn lại chốn xưa lần cuối cùng (Trần Ðộ khi chết cũng không được như vậy). Chỉ thiếu mỗi lá cờ đỏ sao vàng phủ trên quan tài là người quá cố đã nghiễm nhiên trở thành...
 liệt sĩ.

Ðể thực hiện công tác tình báo và kinh tài tại hải ngoại, việc đầu tiên là thiết lập một đầu cầu nhân sự căn bản bằng cách dùng tình “đồng đội” cũ, tiền bạc để mua chuộc những kẻ nhẹ dạ, tham lam, vô công rỗi nghề, sẵn sàng bán rẻ lương tâm để làm việc cho hắn. Sau đây là những bước công tác tình báo đã, đang và sẽ được thực hiện: - Mua chuộc nhân sự bằng tình cảm, tiền bạc qua hình thức hỗ trợ tiền mua nhà, hoặc giúp vốn làm ăn.
- Liên lạc viên được gửi về VN để nhận tiền, chuyển vào trương mục ngân hàng dưới tên một đệ tam nhân thân tín và nhận công tác.
- Mua các bất động sản ở những vùng có giá trị như Thung Lũng Hoa Vàng (San Jose) hay Orange County, vừa để đầu tư, vừa chuẩn bị làm nơi trú ngụ cho cán bộ tình báo thường trực.
- Ðồng thời gửi con cháu qua Mỹ du học. Nơi đây đã có sẵn nhân sự giúp đỡ về mọi mặt, kể cả công việc tìm người mai mối, dựng vợ gả chồng với những người có quốc tịch,để đương sự được chính thức sinh sống trên đất Mỹ. Ðiều này thực hiện rất dễ dàng, vì người ưng thuận sẽ được thưởng một số tiền lớn, thường là một căn nhà dưới hình thức của hồi môn.

- Khi đã có tay chân ruột thịt tại Mỹ, các cửa hàng kinh doanh sẽ được thành lập đứng tên chính thức. Ðây cũng là nơi làm ăn hợp pháp để “rửa tiền”, chuyển những số tiền tham nhũng, bóc lột xương máu từ VN qua ngoại quốc an toàn. Công việc kinh doanh thường là cửa hàng bách hóa lớn, thuận tiện cho việc nhập cảng tiêu thụ những sản phẩm “Made in Vietnam”, hoặc dịch vụ Internet, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường, vừa tiện việc liên lạc nhanh chóng, thu thập tin tức, cũng như thiết lập những “drop mail-box” tình báo một cách tự nhiên, an toàn. Từ những cửa hàng kinh doanh hợp pháp này, thuê tay chân ruột thịt làm việc chính thức, gián tiếp tạo ra một tổ chức nhân sự tín cẩn, trung thành.

 - Thành lập những đoàn thể thân hữu người Việt tÿ nạn dưới những danh xưng “vô tội vạ”. Những tổ chức này sẽ kết hợp, đề ra hay ủng hộ những chiến dịch ngụy trang màu sắc xã hội có lợi cho Cộng Sản, đồng thời ru ngủ,  xoa dịu sức đề kháng chống Cộng cuủa người Việt tÿ nạn.

 - Vận động bạn bè gần xa, đề cao tinh thần “đồng đội”, xóa lằn ranh chiến tuyến Quốc Cộng, mở rộng vòng tay hòa hợp, hòa giải, quên đi quá khứ. Ðến một thời điểm thuận lợi, những tên này sẽ qua Mỹ tham quan dưới hình thức du lịch, hay tháp tùng trong các phái đoàn doanh gia từ Việt Nam. Lúc ấy đương nhiên chúng đã có sẵn nhân sự với cờ đèn, kèn trống đón tiếp, hướng dẫn. Và trong tương lai, một khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, những tên gián điệp lợi hại này sẽ đào thoát, có chổ ẩn náu an toàn tại hải ngoại, với tài sản kếch xù, an hưởng tuổi già trong phú quý.
Vì thế chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi nghe những lời tự thú hay những luận điệu bào chữa, theo không gian và thời gian biến chuyển như sau: “Tao theo Việt Cộng nhưng không hại anh em!”; “Thằng Lâm vì gia đình nhà vợ, nên kẹt nó phải làm kinh tài.”; “Nó làm kinh tài nhưng không tham gia chính quyền.”; “Bây giờ nó đã từ bỏ chính quyền rồi. Tụi mày chỉ nói xấu nó, nó rất tốt, giúp đỡ anh em ở Việt Nam”!
Với những kẻ đã ngồi ngả nghiêng uống máu và ăn cháo lú với “ma quỷ” ở quán “âm hồn” gần cầu Saigon, thì đây quả là những lời chân thành, vô cùng hợp lý. Vì chủ ý chúng là muốn đánh lạc dư luận và lái qua một tiền đề sai lạc, chưa kể dùng tình cảm như một yếu tố để đánh động nhân tâm. Nhưng đối với người khách quan, những luận điệu bào chữa này nghe thật khôi hài và ngớ ngẩn. phản ảnh sự vô liêm sỉ, thiếu tư cách và lòng tự trọng.
Mỗi cá nhân chỉ có một đời người, cũng như mỗi dân tộc chỉ có một lịch sử. Một trăm năm đối với đời người quả thật lâu dài; có mấy ai thọ đến trăm tuổi. Vì thế đời nay, không thiếu gì kẻ chán nản, mệt mỏi, bỏ cuộc trên bước tha hương, quên mất lời thề xưa. Nhưng đối với lịch sử của một dân tộc, cũng như sự tiến hóa của loài người, thì một trăm năm chỉ là một chớp mắt.
Chiến Tranh Chính Trị là một cuộc đấu tranh vô cùng trừu tượng, đòi hỏi sức bền bỉ và lòng kiên nhẫn vô biên, đó là chưa kể thành quả của nó thật khó đo lường vì không cụ thể. Tuy nhiên, vào những ngày tháng cuối cùng nhất của cuộc chiến Việt Nam, chúng ta đã thấy chiến thắng sau cùng của công tác Chiến Tranh Chính Trị: Bất cứ trong cuộc triệt thoái nào cuủa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dân chúng, kể cả những người nông dân nghèo khổ đã bỏ nhà cửa, ruộng vườn, dắt trâu bò chạy theo đoàn quân bại trận, dù họ biết rằng đoàn quân ấy giờ đây không còn khả năng bảo vệ họ nữa.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Cộng Sản Việt Nam đã đoạt được tất cả mọi thứ, từ lãnh thổ, chính quyền, dân số, tài sản quốc gia v.v... Nhưng có một cái bọn chúng đã không thể nào đoạt được, vì chúng ta đã nắm giữ: Ðó là lòng người, là tâm tình Dân Tộc.
Ðó chính là yếu tố tối hậu để đưa cuộc đấu tranh dành Tự Do, Dân Chủ, Phú Cường cho dân tộc Việt Nam đi đến thành công. Và theo luật tiến hóa tự nhiên của trời đất, chế độ Cộng Sản taị Việt Nam, một chế độ phi nhân, lỗi thời và lạc hậu, chắc chắn sẽ bị đào thải.
  IV.- Kết

Ðể chấm dứt bài viết này, chúng tôi xin mượn một đoạn trong bài đêm gắn Alpha cho SVSQ/ÐH/CTCT. Trên Vũ Ðình Trường, trong ánh đuốc bập bùng và giữa màn sương khói của núi rừng Lâm Viên, những lời tâm huyết này đã được tuyên đọc:
“ - Những dòng dõi quý tộc thường có mãi một bảo vật ngàn đời -Những con nhà võ tướng thường giữ được gươm báu lưu truyền.
- Những Hiệp Sĩ thời xưa thường gắn bó với một lời huyết thệ và trên nhung phục hay tấm áo dạ hành, thường mang một huy hiệu biệt cách. Hôm nay đây dưới ngọn cờ tổ quốc, trong huyết thống ngàn đời cuủa dân tộc, bạn cũng đã hãnh diện là dòng dõi của những bậc cân quốc anh hùng, là miêu duệ của những con nhà võ tướng, là hậu thân muôn đời cuủa những người Hiệp Sĩ tóc bời sương gió bốn phương... Vậy bạn cũng phải có một lời thề và một biểu hiệu - Lời thề ấy, bạn sẽ thốt lên, và biểu hiệu ấy, hôm nay đây, bạn hãy ân cần nhận lãnh...”
Hỡi những chàng Hiệp Sĩ của đồi 4648, lời thề đã tuyên đọc, gươm báu đã trao truyền, tước vị đã ban, và yên ngựa đã thắng. Các ngươi còn chần chờ gì nữa, hãy lên đường! Hãy dũng cảm bảo vệ lý tưởng Quốc Gia đã một thời dấn thân và gìn giữ trong cơn binh lửa.
LÂM VIÊN
(Mỹ Quốc, mùa Thu 2002)
(Ghi chú: Lâm Viên tên thật là Phạm Ðức Tiến, Khóa 3 SVSQ/CTCT, tức Họa sĩ Gúc, cùng khóa với Phan Xuân Lâm)
TIẾNG VỌNG DIỄN ÐÀN TÌNH BÁO
 VÀI CẢM NGHĨ NHÂN ÐỌC TÀI LIỆU ÐẶC BIỆT “TỪ CÁI CHẾT CỦA SVSQ/CTCT” Trong KBC HẢI NGOẠI Số Tháng 11 năm 2002.
(Trích KBC Hải Ngoại số tháng 12 nam 2002)
Kính gởi Quý Anh trong KBC Hải Ngoại,
Gần một năm qua, là một độc giả của KBC Hải Ngoại vì ngay từ đầu ba chữ KBC đã gây trong tôi một tình cảm trân quí và thân quen.
Hôm qua, cùng sự náo nức thường lệ mỗi lần đón đọc số mới ( tháng 11/năm 2002), một xúc động mãnh liệt dồn dập trong tôi sau khi đọc xong bài TÀI LIỆU ÐẶC BIỆT MỞ HỒ SƠ CŨ: TỪ CÁI CHẾT CỦA SVSQ SỬ XUÂN VĨNH LỘC ÐẾN MẶT TRẬN ÐIỆP BÁO CSVN” của tác giả LÂM VIÊN. Tài liệu như một bức xúc, một thôi thúc buộc tôi phải bỏ lở những giờ giấc thư giản cuối tuần, trở về lùng sục ký ức, lục loại tài liệu, sách vở để tìm một cái gì đó hình như bị lãng quên vì những nổi trôi của cuộc đời.
Vâng đúng, đó là sự thật dù phủ phàng, là nỗi đau chung của Miền Nam VN chứ không riêng một ai, một đơn vị nào trong cuộc chiến bảo vệ đất nước, Ðiều quan trọng và cần thiết hiện nay là liệu chúng ta có chấp nhận bài học và kinh nghiệm quí báu ấy để có một nhận thức và thái độ đúng đắn cho mai hậu hay không? Bằng những suy nghĩ khách quan, thẳng thắn và đầy thuyết phục, tác giả đã làm nên một chiến tích đầy quả cảm trên mặt trận truyền thông mà những ai còn khoắc khoải với đời quân ngũ, còn ưu tư với vận nước mới có được.
Những tư liệu, những phân tích, những ghi nhận làmột tiếng chuông cảnh tỉnh, đúng lúc và đầy ý thức. Nó đánh động chúng ta trước những thủ thuật xảo quyệt, lừa lọc mà bọn CSVN đã và đang thực hiện trong nước lẫn Hải Ngoại. Cụ thể là nghị quyết tăng cường chiến dịch công tác KIỀU VẬN trong một mặt trận toàn diện Văn Nghệ-Văn Hóa, Kinh Tế-Xã Hội lẫn Tôn Giáo-Chính Trị với kinh phí hàng năm lên đến gần 500 triệu dollar mà chính Phan Văn Khải vừa ký ban hành gần đây.
Bài báo còn là một biến cố đặc biệt đã đem ra ánh sáng một cách chính thức một kỹ niệm đớn đau được bao trùm bởi 1 trò tuyên truyền gây hỏa mù và đánh lạc hướng dư luận rồi bị lãng quên gần 30 năm nay. Thật vậy, tôi đã cố công lùng sục nào là bản tin nội bộ, nào là đặc san, rồi hồi ký, bút ký, tài liệu quân sử v.và và v.. và tuyệt nhiên tôi chẳng hề bắt gặp. Có chăng chỉ là những tình cảm nhân trần, những sinh hoạt cảm quan không bộc lộ và mang một dấu ấn đặc biệt như bài báo, mỗi khi có dịp muốn viết lại những kỹ niệm về Trường Mẹ (ÐH. CT CT).

Văn phong và nội dung bài báo cũng đã đóng góp và tô sáng thêm mục tiêu của Quý Báo: “ Ðọc KBC Hải Ngoại để nhìn lại cuộc chiến VN những hy sinh, những mất mát và để tìm một thế trận mới.” Ðồng thời tác giả cũng gợi nhớ trong tôi công thức mà các nhà chiến lược thường áp dụng để hóa giải một vấn đề hóc búa:” Confront it, solve it and look for a new right way”. (Hãy can đảm đối diện với sự thật, mổ xẻ phân tích dù phải đau đớn để tìm ra một đường hướng mới đúng đắn).

Nhân đây tôi cũng xin được dẩn chứng thêm một chi tiết về nội dung bút tích của chính PHAN XUÂN LÂM (PXL) trong quyển kỷ yếu tốt nghiệp của K.3/ ÐH. CTCT để thấy rõ thêm bộ mặt tay sai của hắn mà lúc đó không một ai nhận diện :
  (Trích) - Bạn hỏi tôi từ đâu đến!
  Từ lòng đất hoang tàn: Thu Xà!
  - Và bạn sẽ về đâu?
  Về Thu Xà (Ngưng trích)
Nếu tinh ý tìm hiểu, ta sẽ thấy Thu Xà không là nơi sinh hay nơi cư trú của PXL nhưng là một địa danh vùng xôi đậu thuộc quận Mô Ðức, Tỉnh Quảng Ngải, là cái nôi hoạt động của CS Liên khu 5 và cũng chính là quê hương của Phạm Văn Ðồng -tên Thủ Tướng bán nước của CSVN- vậy cớ gì PXL lại xuất phát và trở về chốn ấy? Qua nội dung bài báo tác giả đã trả lời.
Ðiểm thứ hai, tôi muốn bổ túc thêm cùng tác giả. “vì vô tình hay cố ý hoặc còn trong một kế hoạch nào khác??” mà tác giả chỉ đề cập tới chỉ có 2 tên trong đội ngũ, trong lúc còn những tên khác đã và đang ẩn mình cam tâm làm tay sai. Ðiển hình nhất là Trần Ngọc Minh, tên điệp báo đã đưa đến bản án tử hình cho Sinh viên Thủ lĩnh TRẦN VĂN BÁ và một số chiến hữu trong một nhóm Kháng Chiến chống CSVN trong những năm 85-86. Sau một thời gian sống chui rút lẫn tránh mọi người, nay cũng bắt đầu chường mặt với 1 lập luận chống chế bào chửa: “mỗi đứa có một đường đi riêng, nhưng anh em vẫn là anh em” (sic) hay một tên khác cũng lập lờ, tuyên bố ”.. rừng vẫn xanh lá” đầy thách thức.
Nghe đâu TN Minh hiện cũng là Phó Giám Ðốc một công ty liên doanh với Ngoại Quốc chuyên xử lý nguồn nước gì đó ở Saigon. Quả là sau Hiệp Ðịnh Thương Mại Việt-Mỹ, CSVN đã tư nhân hóa và cổ phần hóa toàn diện nền kinh tế! Như thế đó! Phải chăng đã đến lúc cần “ giải mã” , “ bạch hóa”, phân định rõ ràng lằn ranh Quốc Cộng trong một thế trận mới!?
Chỉ còn dăm tháng nữa là tròn 30 năm, mới thấy thời gian quả lạnh lùng và vô tình. Lâu rồi mà cứ ngở hôm qua. SỬ XUÂN VĨNH LỘC! Xin một lần gọi tên bạn. Sau những năm dài oan khiên và xin hãy xem đây như là lễ giải siêu mà tác giả kính dâng lên bạn.Từ nay ở một nơi yên bình nào đó mà các bạn đang an nghỉ, bạn có thể mĩm cười, hảnh diện, sánh vai tay bắt mặt mừng cùng HOÀNG TRAI, PHẠM ANH TUẤN, LÂM QUANG THIỆN, LƯU XUÂN QƯỚI... vì các anh đã hiên ngang đền xong nợ núi sông, làm tròn trách nhiệm của những chàng trai thời chinh chiến và nhớ luôn hộ trì cho những người chân chính còn lại.
Cuối thư để thay lời kết,
Này! KBC Hải Ngoại, những người bạn đồng ngũ,
Này! Lâm Viên, người bạn đồng môn.
Xin một lần nữa được làm kẻ đồng hành đầy ý nghĩa để khỏi phải nhục nhã đứng vào hàng ngũ những tên đồng lõa và tiếp tay cho bọn Ác Gian Cộng Sản.
Chân thành đa tạ quý Anh.

California Ngày 19.11.02

Cựu SVSQ Nguyễn Trãi 3/ÐH/CTCT

TRẦN THI

(Ghi chú: Trần Thi là bút hiệu của người bạn đồng khóa với Phạm Ðức Tiến và Phan Xuân Lâm)

No comments:

Post a Comment